Huyết áp thấp: Hoa mắt chóng mặt và cách phòng bệnh hiệu quả

Huyết áp thấp
Huyết áp thấp

Huyết áp thấp đôi khi không có dấu hiệu gì nhưng một số người thường xuyên có dấu hiệu đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, hay buồn ngủ, mệt mỏi… làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hàng ngày, thậm chí còn gây tụt huyết áp dẫn đến chấn thương… Vì vậy bạn nên biết cách xử trí tụt huyết áp đúng và có chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý để phòng và trị bệnh hiệu quả.

I. Quan niệm của Y học hiện đại về Huyết áp thấp

1. Đại cương

– Huyết áp động mạch là áp lực của máu trên thành động mạch, tạo thành bởi các yếu tố :
   + Sức co bóp của tim.
   + Lưu lượng máu trong động mạch.
   +Sức cản ngoại vi.
– Huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa): là áp lực của máu trong động mạch lên tới mức cao nhất khi tim co bóp.
– Huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu): là áp lực của máu ở điểm thấp nhất khi tim ở thì tâm trương.
– Huyết áp thấp là khi áp lực của dòng máu tác động lên thành động mạch bị giảm xuống thấp hơn so với mức bình thường. Bệnh huyết áp thấp biểu hiện lâm sàng chủ yếu là chỉ số huyết áp động mạch cánh tay thấp hơn 90/60mmHg theo phương pháp đo huyết áp thường quy ở người trưởng thành, người già trên 65 tuổi thấy chỉ số thấp hơn 100/60mmHg.
– Phân loại:
   + Huyết áp thấp tiên phát: là những người có thể trạng đặc biệt từ nhỏ đến lớn huyết áp vẫn thấp mà không hề có triệu chứng hoặc biến chứng ở bộ phận nào trong cơ thể, chỉ khi gắng sức thì thấy chóng mệt. Thường gặp ở nữ nhiều hơn nam.
   + Huyết áp thấp do tư thế.
   + Huyết áp thấp thứ phát là huyết áp bình thường nhưng sau đó bị tụt dần xuống tới mức được coi là huyết áp thấp, thường gặp ở những người có một số bệnh mạn tính.

2. Nguyên nhân

– Huyết áp thấp nguyên phát: cơ thể hư nhược, ăn uống kém, suy dinh dưỡng.
– Huyết áp thấp do tư thế: thay đổi tư thế đang nằm, ngồi đột ngột đứng lên hoặc do tư thế đứng kéo dài, có thể liên quan đến rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn chức năng co giãn mạch, bệnh nội tiết, dùng thuốc giãn mạch…
– Huyết áp thứ phát: do bệnh tim mạch, bệnh nội tiết, bệnh mạn tính như thiểu năng tuần hoàn não, stress, đái tháo đường, béo phì, lao, nhiễm khuẩn, nhiễm độc kéo dài, thiếu máu kéo dài, suy tuyến thượng thận, suy tuyến giáp mạn tính…

3. Triệu chứng

– Một số trường hợp có thể không thấy biểu hiện triệu chứng rõ rệt nhưng khi đo huyết áp động mạch cánh tay ở người trưởng thành thấp hơn 90/60mmHg, người già trên 65 tuổi thấy chỉ số thấp hơn 100/60mmHg.
– Một số trường hợp thường có biểu hiện như: thường xuyên mệt mỏi, đau nặng đầu, chóng mặt, hoa mắt, hay quên, chân tay hay bị tê nhức mỏi, lạnh về đêm gây trằn trọc khó ngủ, nhưng ban ngày thì ngủ gật, ngáp liên tục, giảm ham muốn và chất lượng tình dục…
– Trường hợp nặng (tụt huyết áp) thường có biểu hiện: chóng mặt, buồn nôn, mạch nhanh, thở nông, toát mồ hôi lạnh, da xanh nhợt nhạt, môi tím tái, ngất xỉu …

4. Điều trị

– Một số loại thuốc có tác dụng nâng huyết áp tạm thời như: Ephedrin, Heptamyl, Pantocrin, Fludrocortisone, Midodrine…

II. Hạn chế y học hiện đại khi điều trị Huyết áp thấp

– Hiện nay chưa có một loại thuốc nào có hiệu quả triệt để căn bệnh này nên chỉ điều trị triệu chứng, thuốc có thể gây tác dụng phụ như mất ngủ, đánh trống ngực, tăng huyết áp… Khi dùng Ephedrin liều cao kéo dài có thể quen thuốc và phụ thuộc vào thuốc, nghiện thuốc.

III. Quan niệm của Y học cổ truyền về Huyết áp thấp

1. Đại cương

– Y học cổ truyền xếp các triệu chứng của bệnh Huyết áp thấp thuộc phạm trù Huyễn vựng, Quyết chứng, Hư lao

2. Nguyên nhân

– Bẩm tố hư nhược, hình khí bất túc, hậu thiên không được nuôi dưỡng đầy đủ làm cho khí huyết suy yếu. Khí hư thì dương nhược, khí hư thì âm hao, khí cơ thăng giáng thất thường làm cho thanh dương không thăng. Âm huyết bất túc làm huyết không tràn đầy lòng mạch, khí hao tinh thiếu làm huyết mạch không đi nuôi dưỡng được toàn thân, tâm não không được dinh dưỡng đầy đủ gây bệnh.
– Ăn uống không điều độ, lao động quá sức, uống rượu nhiều gây tổn thương tâm tỳ. Tỳ vị rối loạn chức năng làm mất nguồn hóa sinh huyết dịch, tâm huyết hao tổn làm huyết không đi nuôi dưỡng được toàn thân, khí huyết hao tổn làm tâm não không được nuôi dưỡng gây nên chứng bệnh này.
– Mắc bệnh nặng, bệnh lâu ngày làm tích lao thành tật hoặc do tuổi già sức yếu, tinh khí đều hư hoặc do tác dụng phụ của thuốc hoặc do khí huyết âm dương của tạng phủ rối loạn gây nên chứng bệnh trên.
– Tâm phế khí hư hoặc tâm dương bất túc làm dương khí không đầy đủ, không đưa lên trên để ôn dưỡng vùng đầu mặt, không nuôi dưỡng được tứ chi nên xuất hiện chứng đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, chân tay lạnh.
– Tỳ vị hư tổn, trung khí bất túc làm ảnh hưởng đến nguồn hóa sinh gây tổn thương doanh vệ khí huyết. Tỳ chủ thăng thanh làm khí huyết thanh dương không đưa được lên trên làm rối loạn nuôi dưỡng của não gây chóng mặt. Doanh huyết bất túc làm vệ khí bất cố nên dễ gây ra mồ hôi.
– Thận âm bất túc hoặc tuổi cao sức yếu đều có thể gây nên thận tinh hao hư, tủy hải bất túc, não không được nuôi dưỡng đầy đủ gây nên các chứng chóng mặt, đau đầu.

3. Triệu chứng

– Thời kỳ cấp tính (tụt huyết áp): do dương khí hư kết hợp với lao lực quá độ, ăn uống kém, thay đổi tư thế đột ngột gây ra các chứng đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, có thể ngã, hôn mê, sắc mặt trắng bệch, hơi thở yếu, ra mồ hôi nhiều, chân tay lạnh, chất lưỡi nhợt, mạch trầm vi. Sau thời gian ngắn thì bệnh nhân lại tỉnh dần, sau khi tỉnh không để lại di chứng
– Thời kỳ ổn định
   + Thể tâm tỳ lưỡng hư: sắc mặt trắng, chóng mặt, đau đầu, hoa mắt, hụt hơi, ngại nói, mệt mỏi, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược.
   + Thể khí âm lưỡng hư: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khó thở nhẹ, hồi hộp trống ngực, miệng khô, chất lưỡi nhợt hoặc hồng, rêu lưỡi ít, mạch trầm tế.
   + Thể tỳ thận lưỡng hư: Chóng mặt ù tai, mệt mỏi vô lực, đoản khí ngại nói, ăn kém bụng trướng, lưng gối mỏi đau, ngủ ít hay quên, lưỡi nhạt rêu mỏng, mạch trầm tế.
   + Thể can thận bất túc: đau đầu hoa mắt chóng mặt, mắt khô, ù tai, miệng họng khô, run chân tay, lưng gối đau mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, ngủ ít mơ nhiều, đại tiện khó sáp, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế.
   + Thể tâm thận dương hư: hồi hộp chóng mặt, tức ngực đoản khí, mệt mỏi vô lực, người lạnh sợ lạnh, lưng gối đau mỏi, tiểu tiện trong dài, đại tiện không thành bãi, lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch trầm.

4. Điều trị

– Thời kỳ cấp tính (tụt huyết áp): bổ khí hồi dương.
– Thể tâm tỳ lưỡng hư: bổ ích tâm tỳ.
– Thể khí âm lưỡng hư: ích khí dưỡng âm.
– Thể tỳ thận lưỡng hư: Kiện tỳ bổ thận.
– Thể can thận bất túc: bổ thận nhu can, tư âm giáng hỏa.
– Thể tâm thận dương hư: ôn bổ tâm thận, chấn hưng dương khí.

IV. Hạn chế y học cổ truyền khi điều trị Huyết áp thấp

– Thuốc Đông y thường tác dụng chậm, thời gian điều trị kéo dài, đòi hỏi sự kiên trì của người bệnh

V. Phương pháp kết hợp điều trị Huyết áp thấp

– Thuốc Đông y: Tùy từng thể bệnh mà sử dụng các bài thuốc khác nhau như bệnh cấp tình dùng Độc sâm thang. Thời kỳ ổn định có thể dùng bài Quy tỳ thang, Bổ trung ích khí thang, Sâm hoàng cam kỷ thang, Kỷ cúc địa hoàng, Dưỡng tâm thang hợp thận khí hoàn gia giảm …
– Hiện nay, Trung Quốc dùng thuốc tiêm tĩnh mạch chậm như dịch tiêm Sinh mạch 10 – 20ml (nhân sâm, mạch môn, ngũ vị tử), dịch tiêm Sâm mạch 20 – 30ml (nhân sâm, mạch môn). Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa thực hiện được.
– Xoa bóp bấm huyệt toàn thân giúp tăng cường lưu thông khí huyết.
– Cứu: cứu cách tỏi ở rốn hoặc cho bột hồ tiêu vào rốn rồi dùng cao thuốc bít lại và cứu.
– Khí công dưỡng sinh: Tập các bài luyện ý, luyện thở, luyện hình thể.

VI. Cách phòng chống Huyết áp thấp hiệu quả

– Duy trì chế độ ăn hợp lý: uống nhiều nước khoảng 2l / ngày, bổ sung muối, ăn nhiều bữa nhỏ, nhiều loại thức ăn, bao gồm ngũ cốc, trái cây, rau quả, thịt gà nạc, cá…
– Không được dùng chế độ ăn kiêng để giảm cân nhanh.
– Nên tránh một số loại thực phẩm có thể khiến tình trạng hạ huyết áp nghiêm trọng hơn, như cà chua, hạt dẻ nướng, dưa hấu, đậu đỏ, đậu xanh, thực phẩm giàu tinh bột như khoai tây, gạo, cháo, bánh mì, rượu…
– Tránh stress, cân bằng về tâm lý.
– Ngủ đủ giấc: 7-8 tiếng/ngày. Khi ngủ, đặt một chiếc gối dưới đầu sao cho đầu cao hơn tim một chút.
– Đứng lên ngồi xuống từ từ, tránh thay đổi tư thế đột ngột:
   + Trước khi ra khỏi giường vào buổi sáng, hít thở sâu vài phút, vận động nhẹ nhàng và sau đó từ từ ngồi dậy trước khi đứng.
   + Đứng dậy chậm để cho cơ thể có thời gian thích ứng.
– Tránh các môn thể thao vận động mạnh như chạy nhảy, leo núi… nhất là trong thời tiết nắng nóng.
– Tập thể dục nhẹ nhàng như yoga, dưỡng sinh, đạp xe… Nên mang tất chân, tốt nhất là loại tất dài
– Nên khám sức khỏe định kỳ 2 lần trong năm. Quản lý tốt những bệnh mạn tính: đái tháo đường, suy tim, suy gan, viêm phế quản mạn tính…

VII. Cách xử trí khi bị tụt huyết áp

– Khi một người có dấu hiệu hoa mắt, chóng mặt, ngất xỉu… chúng ta cần phải xem xét người bệnh có tiền sử mắc tiểu đường hay không, nếu không có thì loại bỏ khả năng bệnh nhân bị hạ đường huyết và tập trung sơ cứu tụt huyết áp.
+ Người sơ cứu cần bình tĩnh, từ từ dìu người bệnh ngồi hoặc nằm xuống bề mặt phẳng, sau đó dùng gối kê đầu và chân, lúc này chú ý nên kê gối cao hơn so với đầu.
+ Cho người bệnh uống các loại nước có tính ấm nóng như trà gừng, nhân sâm, chè đặc, café,… tránh sử dụng đồ uống có cồn như bia, rượu.
+ Nếu ngay lúc đó không có sẵn những thực phẩm như vậy thì hãy cho bệnh nhân uống nhiều nước lọc, điều này có thể giúp kích thích nhịp tim, tạm thời nâng chỉ số huyết áp lên.
+ Nếu người bệnh có thể ăn được nên sử dụng một chút socola, đồ ăn mặn sẽ giúp bảo vệ thành mạch máu và giữ cho huyết áp được ổn định hơn.
+ Nếu người bệnh thấy đỡ hoa mắt. chóng mặt, buồn nôn…, hãy nhắc họ cử động chân tay và đỡ bệnh nhân từ từ ngồi dậy.
+ Nếu không thấy bệnh nhân đỡ hơn sau sơ cứu, cần nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất để được khám và điều trị kịp thời.

hellosuckhoe.net

Chia Sẻ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

}